Latest Posts

dong chai2 nuoc RO

dan loc dan ra chai rua binh

Công ty TNHH Thương mại và Kỹ thuật Hưng Phương chuyên cung cấp:

– Dây chuyền lọc nước tinh khiết đóng chai, đóng bình
– Hệ thống lọc nước tinh khiết RO công ty, nhà xưởng, trường học; cơ sở sản xuất linh kiện điện tử;
– Dây chuyền xúc rửa, chiết rót, đóng nắp tự động và bán tự động bình bình 20 lít, chai pet (330ml, 500ml, 1500ml)
– Máy lọc nước trực tiếp nóng lạnh; Máy lọc nước RO gia đình
– Xử lý nước giếng khoan gia đình và công nghiệp
– Tư vấn, thiết kế, lắp đặt , thi công Dây chuyền lọc nước tinh khiết,  Hệ thống lọc nước tinh khiết, Dây chuyền sản xuất nước đóng chai, đóng bình 21 lit, chai pet
– Bảo trì, bảo dưỡng Dây chuyền lọc nước đóng chai, đóng bình
– Bảo trì, thay thế lõi lọc định kỳ máy lọc nước nóng lạnh

Cung cấp vật liệu lọc nước:

+ Than hoạt tính, cát thạch anh, Mangan, hạt khử phèn, hạt cation, anion…

+ Linh kiện: Đèn tia cực tím UV trong xử lý nước, cột lọc, lõi lọc, máy bơm,

dieu-kien-van-chuyen-hoa-chat

1.Hàm lượng hóa chất

Các hóa chất pha trộn được quy đổi ra nồng độ % để tiện cho việc tính toán

Nồng độ % khối lượng 

nong do

Trong đó:

C%: nồng độ phần trăm (%)

Mdd: khối lượng dung dịch (mdd = mct + mdm) (kg)

Mdm: khối lượng dung môi (kg)

Mct: khối lượng chất tan (kg)

Hàm lượng hóa chất

Pha hóa chất bằng nước do đó dung môi ở đây chính là H2O với khối lượng riêng là 1kg/lit.

Khi đó hàm lượng hóa chất cần pha được xác định theo công thức sau:

2

2. Cách pha hóa chất

 Ước tính hóa chất cần dùng cho việc vận hành HTXL ở đây đang được tham khảo. Hàm lượng của liều lượng hóa chất phụ thuộc vào chất lượng nước thải và cần được xem lại và điều chỉnh để đạt được kết quả xử lý tốt nhất.

a. Xút (NaOH)

Kiềm (xút vảy) sử dụng ở đây là dạng nguyên chất dùng trong công nghiệp. Trong công trình này công dụng xút đựơc dùng để trung hòa nâng pH của nước thải chủ yếu tại bể tuyển nổi.

Bồn chứa xút: loại bồn Composite chuyên dùng có khả năng chịu được ăn mòn.

Nồng độ xút thích hợp dùng trung hòa nước thải từ 50 ppm.

Liều lượng xút cần dùng:  50 ppm x 700m3 = 35 kg/ ngày đêm.

Chú ý: chỉ sử dụng khi có sự thay đổi pH

b. Axit Sulphuric (H2SO4) 98%

Acid sử dụng ở đây là acid sulphuric 98%. Trong công trình xử lý này công dụng acid dùng để trung hòa hạ pH của nước thải nhuộm từ giá trị 9-11 xuống khoảng 7-8, chủ yếu tại bể trung gian.

Bồn chứa acid: loại bồn composite chuyên dùng có khả năng chịu được ăn mòn.

Nồng độ acid thích hợp dùng trung hòa nước thải khoảng 30 ppm.

Liều lượng acid cần dùng khoảng 21 kg/ ngày đêm.

Nồng độ acid cần pha để pha đơn giản thường là 10 %.

Chú ý: chỉ sử dụng khi có sự thay đổi pH

c. Chlorine 10%

Dung dịch Chlorine được dùng làm tác nhân oxid hóa chất hữu cơ khử trùng nước thải.

Nồng độ Chlorine thích hợp dùng khử trùng nước thải khoảng 10 ppm.

Liều lượng Chlorine cần dùng khoảng  7kg/ ngày đêm.

Nồng độ Chlorine nên dùng trực tiếp dạng 10 %.

d. Chất dinh dưỡng

Chất dinh dưỡng được dùng để nuôi cấy vi sinh trong bể xử lý yếm khí & hiếu khí. Chất dinh dưỡng chỉ sử dụng trong giai đoạn khởi động ban đầu để nuôi cấy vi sinh và được châm vào bể xử lý yếm khí & hiếu khí bằng tay.

– Axit Phosphoric (H3PO4)

Acid phosphoric 85 % được sử dụng chủ yếu cung cấp phospho cho vi sinh vật ở bể xử lý sinh học.

Liều lượng axit phosphoric cần dùng:   20 kg/ngày đêm.

– Ure 10%

Ure được sử dụng chủ yếu cung cấp nito cho vi sinh vật ở bể xử lý sinh học.

Liều lượng Ure cần dùng:      80 kg/ngày đêm.

– Phèn PAC

Phèn dùng trong trường hợp này là PAC (Poly Aluminium Chloride) dạng bột màu vàng, khả năng hòa tan cao (MSDS).

Nồng độ phèn thích hợp cho phản ứng keo tụ khoảng 250 ppm.

Liều lượng phèn cần dùng: 250 mg/l x 700 m3 = 175 kg/ ngày đêm.

Nồng độ phèn pha nên dùng khoảng 10 %.

– Polymer Anion

Polimer anion dùng ở đây là: A1120 tinh thể trắng đục, độ hòa tan khá thấp (xem MSDS).

Nồng độ polimer thích hợp cho phản ứng keo tụ khoảng 3 ppm.

Liều lượng polimer cần dùng: 3 mg/l x 700 m3 = 2.1 kg/ ngày đêm.

Polymer Cation

Polimer cation dùng ở đây là: C1492 tinh thể trắng đục

Nồng độ polimer thích hợp cho phản ứng keo tụ khoảng 3 ppm.

HÓA CHẤT TIÊU THỤ TRONG 1 NGÀY:

STT

Hóa chất Đơn vị Khối lượng (kg)

01

Xút vảy (NaOH)

kg/ngày

35

02

Axit Sulphuric (H2SO4)

kg/ngày

21

03

Ure

kg/ngày

80

04

Axit Phosphoric (H3PO4)

kg/ngày

20

05

Chlorine

kg/ngày

7

06

Phèn PAC

kg/ngày

175

07

Polymer Anion

kg/ngày

2,1

08

Polymer Cation

kg/ngày

0,3

Chú ý: Hàm lượng của liều lượng hóa chất còn phụ thuộc vào chất lượng nước thải.

water-treatment

Amoni trong nước thải là 1 chỉ tiêu ô nhiễm trong QCVN 14:2008/BTNMT . Đây là 1 chi tiêu ô nhiễm trong nước thải khác với chỉ tiêu Nito tổng, các bạn có thể xem cách xử lý nito trong nước thải sinh hoạt nha . Xử lý Amoni trong nước thải là việc nitrat hóa amoni NH3+ thành nitrat NO3-. Đây là 1 quá trình chuyển hóa được thực hiện qua hai bước và với 2 loại vi khuẩn Nitrosomonas và Nitrobacter.

Phương trình phản ứng như sau :

Ammonia + Oxygen +Bazo+ Nitrosomonas = Nitrit

Nitrit + Oxygen + Bazo + Nitrobacter = Nitrat(NO3-)

Nitrit + Oxygen + Bazo + Nitrobacter = Nitrat(NO3-)

xu-ly-amoni-trong-nuoc-thai-sinh-hoat

Để chuyển đổi từ Amoni sang nitrit cần tỷ lệ 4,6/7,1 = oxy/bazo

Quá trình chuyển đổi amoni thành nitrat được tiến hành đầu tiên bởi các vi khuẩn sống trong đất và các loại vi khuẩn nitrat hóa khác. Trong giai đoạn nitrat hóa đầu tiên này, sự ôxy hóa amoni (NH4+) được tiến hành bởi các loài vi khuẩn Nitrosomonas, quá trình này chuyển đổi amoniac thành nitrit (NO2). Các loại vi khuẩn khác như Nitrobacter có nhiệm vụ ôxy hóa nitrit thành nitrat (NO3).[3] Việc biến đổi nitrit thành nitrat là một quá trình quan trọng vì sự tích tụ của nitrit sẽ gây ngộ độc cho thực vật.

Sau khi chuyển hóa thành NO3– tiếp tục phản ứng khử để chuyển hóa thành khí nito,Phản ứng oxy hóa khử này phụ thuộc vào các vi khuẩn dị dưỡng. (Các vi khuẩn dị dưỡng sử dụng nitrat như 1 nguồn thực phẩm).

Nitrat + Chất hữu cơ + Heterotrohic bapcteria =  Khí N + Khí Oxy + Kiềm

 

module
 Hệ thống module nhỏ gọn thích hợp cho không gian nhỏ, nhà hàng, khách sạn. Sản xuất bằng vật liệu Composite có độ bền cao, chống ăn mòn. Thiết bị đồng bộ có tuổi thọ cao, hoạt động hoàn toàn tự động.
– Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học, ngoài ra còn có cả các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh nguy hiểm. Chất hữu cơ chứa trong nước thải bao gồm các hợp chất như protein (40 – 50%) hydrat cacbon (40 – 50%). Nồng độ chất hữu cơ trong nước thải sinh hoạt dao động trong khoảng 150 – 450 mg/l theo trọng lượng khô. Có khoảng 20 – 40% chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học
– Nguồn gốc nước thải: Từ sinh hoạt hằng ngày của cán bộ công nhân viên nhà máy, từ nhà bếp;
Yêu cầu công nghệ xử lý

– Cấu trúc hộp khối gọn nhẹ, chỉ một Module duy nhất;
– Vận hành hoàn toàn tự động.
– Chất lượng nước đạt tiêu chuẩn thải môi trường;
– Điện năng: tiết kiệm điện (nguồn 220/320kV, có thể dùng năng lượng mặt trời)
– Thời gian thi công lắp đặt nhanh 10 ngày;
– Diện tích chiếm dụng nhỏ

Quy trình công nghệ xử lý

cong-nghe

Thuyết minh công nghệ
        Nước thải sinh hoạt thải ra từ nhà vệ sinh, nhà tắm, nhà ăn,…được thu gom theo đường ống chung qua song chắn rác chảy về bể điều hòa. Bể điều hòa có vai trò điều hòa lưu lượng và nồng độ của nước thải đầu vào bể để nồng độ và lưu lượng sau khi ra khỏi bể vào hệ thống xử lý chính được ổn định.
Tiếp theo nước thải được bơm vào bể Anoxic.
Bể Anoxic:
      – Tại bể Anoxic nước thải được xáo trộn bằng máy thổi khí chìm kết hợp với hóa chất NaOH nhằm duy trì giá trị pH tối ưu cho quá trình xử lý. Trong điều kiện thiếu khí hệ vi sinh vật thiếu khí phát triển xử lý N và P thông qua 2 quá trình Nitrat hóa và Photphorit và một phần COD, BOD trong nước thải.
      – Quá trình nitrate hóa:
      Tại bể anoxic lưu lượng được ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho hệ vi sinh hoạt động 24/24; Ổn định tải lượng ô nhiễm cho vi sinh hoạt động với hiệu quả tối ưu. Bơm khuấy trộn chìm tạo điều kiện nước thải được tiếp xúc oxy kết hợp với việc kiểm soát pH tự động, nâng pH lên cao khoảng 8 tạo môi trường bazo kích thích sự phát triển của vi khuẩn Nitrosomonas và Nitrobacter sẽ oxi hoá hàm lượng amonia thành nitrate, quá trình khử Nitrate này diễn ra trong môi trường thiếu oxi.

       Các quá trình khử nitơ được thực hiện như sau: 

aa

Quá trình Oxy hóa và tổng hợp:

CHONS (chất hữu cơ) + O2 + Chất dinh dưỡng + vi khuẩn hiếu khí → CO2 + H2O + NH3 + C5H7O2N (tế bào vi khuẩn mới) + sản phẩm khác.
       Hô hấp nội bào:
C5H7O2N (tế bào) + 5O2 + vi khuẩn → 5CO2 + 2H2O + NH3 + E
        – Bên cạnh quá trình chuyển hóa các chất hữu cơ thành carbonic CO2 và nước H2O, vi khuẩn hiếu khí Nitrisomonas và Nitrobater còn oxy hóa ammonia NH3 thành nitrite NO2 và cuối cùng là nitrate NO3 . Sử dụng CH3OH làm chất xúc tác cung cấp cacbon cho sự chuyển hóa nitrate NO3– thành N2.
+ Bước 1: Quá trình Nitrat hóa chuyển hóa Nitơ thành Nitrite dưới tác dụng củaVi khuẩn Nitrisomonas:
    2NH4+ + 3O2 → 2NO2 + 4H+ + 2H2O
      + Bước 2: Chuyển hóa Nitrite thành Nitrate dưới tác dụng của vi khuẩn Nitrobater:
    2NO2 + O2 →  2 NO3
       Tổng cộng:
NH4+ + 2O2 → NO3 + 2H+ + H2O    (*)
      Trên cơ sở phương trình tổng hợp sau:
NH4+ + 1,863O2 + 0,098CO2 → 0,0196C5H7O2N + 0,98NO3 + 0,0941H2O + 1,98H+
      + Bước 3: Sử dụng các hợp chất hữu cơ có trong nước thải (sử dụng cacbon hữu cơ)
Nitrate nitrogen + CH3OH → N2 + độ kiềm
 
       – Quá trình khử nitơ (denitrification) từ nitrate NO3 thành nitơ dạng khí N2 được thực hiện nhằm đạt chỉ tiêu cho phép của nitơ. Quá trình sinh học khử nitơ liên quan đến quá trình oxy hóa sinh học của nhiều cơ chất hữu cơ trong nước thải sử dụng nitrate hoặc nitrite như chất nhận điện tử thay vì dùng oxy, trong điều kiện không có DO hoặc dưới nồng độ DO giới hạn (nhỏ hơn 2 mg O2/L).
       – Quá  trình  Photphorit hóa:  chủng  loại  vi  khuẩn  tham  gia  vào  quá  trình  này  là Acinetobacter. Các hợp chất hữu cơ chứa photpho sẽ được hệ vi khuẩn Acinetobacter chuyển hóa thành các hợp chất mới không chứa photpho và các hợp chất có chứa photpho nhưng dễ phân hủy đối với chủng loại vi khuẩn hiếu khí.
Hiệu suất xử lý Nitơ đạt bể anoxic đạt 60 – 75 %, Photpho 60%;
Nước thải sau khi xử lý qua bể Anoxic sẽ tự chảy qua bể Hiếu khí (oxic);
Bể hiếu khí:
        – Ở đây sẽ được máy thổi, cung cấp oxy qua hệ thống đĩa phân phối khí tinh để tiếp tục nitrat hóa.
Bể vi sinh hiếu khí (oxic) công trình chính để xử lý các chất hữu cơ: BOD, COD một cách triệt để nhất. Oxy được cung cấp liên tục bằng máy thổi khí đảm bảo lượng oxi hòa tan trong nước thải luôn lớn hơn 2 mg O2/L. Trong điều kiện thổi khí liên tục này, quần thể vi sinh vật hiếu khí phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải thành những hợp chất vô cơ đơn giản như CO2 và nước:
C5H7O2N + O2 + Vi Sinh Vật → CO2 + H2O + Tế Bào Mới + Năng Lượng
(Trong đó C5H7O2N biểu thị cho các hợp chất hữu cơ có mặt trong nước thải)
 
module-2-1024x356 (FILEminimizer)
         – Bên cạnh việc duy trì ổn định cho việc xử lý, tại bể oxic còn được lắp đặt hệ thống bổ sung dinh dưỡng và vi sinh khi cần thiết nhằm duy trì ổn định nồng độ các nguyên tố dinh dưỡng theo tỷ lệ thích hợp: BOD toàn phần: N : P = 100 : 5: 1 đây là tỷ lệ tối ưu cho quá trình phân giải các chất hữu cơ trong nước thải.

Nước thải sau khi ra khỏi bể Aerotank sẽ được chuyển qua bể lắng.

Bể lắng:

Tại bể lắng dưới tác dụng của trọng lực bùn được lắng xuống đáy bể, phần bùn dưới đáy bể được được bơm tuần hoàn về bể hiếu khí để duy trì lượng bùn hoạt tính trong bể. Phần nước trong bên trên chảy tràn ra máng thu nước và chảy về bể khử trùng.

Bể khử trùng:

Tại bể khử trùng, nước thải được bơm châm hóa chất khử trùng Clorin được châm vào bể với lưu lượng thích hợp để loại bỏ hết các loại vi khuẩn gây bệnh trước khi vào bể trung gian.

Bể trung gian:

Bể trung gian có chứa năng chứa và điều tiêt lưu lượng nước cho hệ thống lọc;

Hệ thống lọc áp lực:

Hệ thống lọc chứa vật liệu lọc bao gồm cát thạch anh, than hoạt tính, sỏi lọc … Các cặn bẩn trong nước sẽ được giữ lại trên bề mặt vật liệu lọc, nước sạch được thải vào hệ thống thoát nước khu vực.

Nước thải sau khi xử lý đạt loại A, QCVN 14:2008/BTNMT.

Ưu điểm hệ thống: Hệ thống module nhỏ gọn thích hợp cho không gian nhỏ, nhà hàng, khách sạn. Sản xuất bằng vật liệu Composite có độ bền cao, chống ăn mòn.

 

Thiết bị bảo hộ lao động (BHLĐ) là những dụng cụ, phương tiện cần thiết để ngăn ngừa tai nạn và bảo vệ sức khỏe cho người lao động khi làm việc trong điều kiện có các yếu tố nguy hiểm, độc hại. Tuy nhiên, hiện nay trên thị trường, các thiết bị này được bày bán tràn lan, nhiều mặt hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng không bảo đảm, nhiều ngành thiếu đồ BHLĐ. Việc quản lý thị trường đồ BHLĐ đang bị buông lỏng, bất cập cần được quản lý chặt chẽ đặc biệt là về chất lượng.

Nhộn nhạo thị trường đồ bảo hộ lao động

Khảo sát tại các cửa hàng bán thiết bị BHLĐ trên các đường: Yết Kiêu, Nguyễn Du, Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh (TP Hà Nội)… chúng tôi thấy, các loại bày bán ở đây khá phong phú, đa dạng về chủng loại, mẫu mã. Phần lớn các mặt hàng này được nhập từ nước ngoài, trong đó có nhiều loại mặt hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, không tem nhãn bảo hành, không có ngày sản xuất, không hạn sử dụng. Anh Nguyễn Văn Dương, chủ một cửa hàng bán đồ BHLĐ trên đường Lê Duẩn cho biết: “Mặt hàng đồ BHLĐ hiện nay rất đa dạng về chủng loại, mẫu mã, từ khẩu trang, dây an toàn, quần, áo, mũ bảo hộ… cho đến những thiết bị chuyên dụng như: Tai nghe chống ồn, mặt nạ phòng độc, mũ chống vật lạ… Hơn một nửa sản phẩm tại cửa hàng được nhập khẩu từ nước ngoài, phần lớn nhập từ Trung Quốc, còn lại là đồ sản xuất trong nước. Mặt hàng nhập khẩu được bán chạy hơn mặt hàng sản xuất trong nước vì mẫu mã đa dạng hơn mà giá thành tương đương, thậm chí có những loại còn rẻ hơn”.

Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam), hơn 60% số thiết bị BHLĐ hiện nay không bảo đảm, là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều vụ tai nạn lao động (TNLĐ) thương tâm. Báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho biết, năm 2015 trên toàn quốc đã xảy 7.620 vụ TNLĐ làm 7.785 người bị nạn, trong đó số người chết là 666 người, số người bị thương nặng là 1.704 người. So với năm 2014, số vụ TNLĐ tăng 911 vụ, số người chết tăng 36 người. Nguyên nhân xảy ra TNLĐ do thiết bị không bảo đảm an toàn lao động chiếm 14,3% tổng số vụ.

Ông Lê Đức Thiện, Phó giám đốc Trung tâm An toàn lao động (Viện Nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động) cho rằng, thực tế không ít doanh nghiệp sản xuất thiết bị BHLĐ đã tiết kiệm chi phí bằng cách ăn bớt nguyên vật liệu, làm gian dối nên sản phẩm tuy có giá thành rẻ nhưng lại thiếu an toàn. Việc kiểm tra các sản phẩm bảo hộ cũng chỉ được tiến hành trên một số mặt hàng, số còn lại nhập khẩu tiểu ngạch thường không được kiểm soát. Nhiều sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài tiêu chuẩn không phù hợp với điều kiện sử dụng trong nước. Ví dụ, như tiêu chuẩn độ bền, móc của dây an toàn theo tiêu chuẩn châu Âu là 15kg/N trong khi theo tiêu chuẩn Việt Nam là 20kg/N. Bên cạnh đó, những sản phẩm của Việt Nam cũng hầu như rất ít được kiểm định nhưng vẫn bán tự do, nhiều nhất là những sản phẩm như mũ bảo hộ và dây an toàn.

Khoảng trống đồ bảo hộ lao động cho nông dân

Theo Trung tâm An toàn lao động, hiện nay thiết bị BHLĐ trong ngành nông nghiệp chỉ chiếm 20%, trong khi lao động trong nông nghiệp chiếm khoảng 70% lực lượng lao động của cả nước. 94% số hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không có hướng dẫn, không có dụng cụ bảo hộ, mà dùng theo cảm tính, mua và phun tùy tiện. Theo nghiên cứu của trung tâm, khoảng 70% số người tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật đã có triệu chứng ngộ độc… cho thấy hơn bao giờ hết, an toàn lao động cho người nông dân đang ở tình trạng báo động. Theo thống kê của Cục An toàn lao động (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội), lao động trong nông nghiệp có nguy cơ mắc TNLĐ cao, chỉ đứng sau lao động trong các ngành: Xây dựng, hóa chất và khai thác mỏ.

Các chủ đại lý buôn bán thiết bị BHLĐ cho biết, đa phần các sản phẩm được bày bán dành cho ngành công nghiệp, xây dựng. Các mặt hàng BHLĐ trong nông nghiệp thì rất hiếm, đại lý ít nhập vì có rất ít người mua. Lao động trong nông nghiệp chủ yếu là lao động nhỏ lẻ, tài chính hạn hẹp nên rất ít người chú trọng bảo hộ cho mình. Nhận thức của người nông dân về vấn đề này còn nhiều hạn chế. Người nông dân không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân như: Khẩu trang, găng tay khi tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật; vứt bỏ chai, bao chứa thuốc bừa bãi ngoài đồng ruộng; lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng vượt mức khuyến cáo; phần lớn máy móc, thiết bị nông nghiệp đưa vào sử dụng thiếu các bộ phận che chắn an toàn… là tình trạng phổ biến.

Siết chặt quản lý, tăng mức xử phạt

Chương trình Quốc gia an toàn, vệ sinh lao động giai đoạn 2016-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 05/QĐ-TTg ngày 5-1-2016 với mục tiêu cụ thể đến năm 2020 trung bình hằng năm giảm 5% tần suất TNLĐ chết người. Để đạt được mục tiêu này thì việc siết chặt quản lý thị trường đồ BHLĐ là hết sức quan trọng.

Ông Nguyễn Anh Thơ, Phó cục trưởng Cục An toàn lao động, cho rằng, các sản phẩm BHLĐ trước khi lưu hành trên thị trường phải được chứng nhận đúng quy chuẩn kỹ thuật và các yêu cầu an toàn theo quy định của pháp luật. Cơ quan quản lý sẽ phải thường xuyên kiểm tra, giám sát các doanh nghiệp và các đại lý buôn bán đồ BHLĐ; tăng mức xử phạt đối với những doanh nghiệp sản xuất và các đại lý buôn bán đồ BHLĐ không đạt chất lượng. Đồng thời, Nhà nước cũng cần có chính sách phát triển ngành công nghiệp sản xuất thiết bị BHLĐ, khuyến khích các nhà sản xuất hướng tới thị trường nông thôn và người nông dân.

Ông Lê Đức Thiện thì đưa ra giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân trong việc sử dụng đồ BHLĐ. Theo ông, cần phải mở các lớp tập huấn cho người lao động về cách sử dụng và cách nhận biết chất lượng đồ BHLĐ. Đối với những mặt hàng BHLĐ nhập khẩu cần xác định tiêu chuẩn của chúng có phù hợp với điều kiện thời tiết và con người Việt Nam hay không mới cho phép nhập về nước. Đồng thời, các tổ chức có nhiệm vụ nghiên cứu đồ BHLĐ cần thể hiện rõ vai trò hơn nữa trong việc đề xuất giải pháp kỹ thuật an toàn lao động và hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước. Có như vậy, thị trường đồ BHLĐ mới không lỏng lẻo và mục tiêu đến năm 2020 hằng năm giảm 5% tần suất TNLĐ chết người mới thêm tính khả thi.

Nguồn: La Duy   

 

gian_giao
  1. Chỉ những ai hội đủ các điều kiện sau mới được làm các công việc có liên quan đến giàn giáo :
  • Có độ tuổi lao động phù hợp với quy định cuả nhà nước
  • Có chứng nhận đủ sức khoẻ bởi cơ quan y tế
  • Được đào tạo chuyên môn tương ứng và được chính thức giao làm việc đó
  • Được huấn luyện bảo hộ lao động và có chứng chỉ kèm theo
  • Sử dụng đúng và đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân cấp phát theo chế độ
  • gian_giao
  1. Chỉ được lắp dựng các giàn giáo, giá đỡ đã được xét duyệt chính thức với bản vẽ thiết kế và thuyết minh kèm theo. Công việc lắp dựng phải đặt dưới sự giám sát cuả đội trưởng hay cán bộ kỹ thuật.
  2. Mặt bằng nơi lắp đặt giàn giáo phải ổn định và có rãnh thoát nước tốt. Cột đỡ giàn giáo và giá đỡ phải được đặt thẳng đứng và được giằng neo theo đúng thiết kế. Chân cột đỡ phải được kê đệm chống lún , chống trượt , cấm dùng gạch , đá hay ván gẫy để kê đệm
  3. Số lượng móc neo hoặc dây chằng cuả giàn giáo và giá đỡ phải tuân theo đúng thiết kế. Không cho phép neo vào các bộ phận kết cấu có tính ổn định kém như lan can , ban công , mái đua…
  4. Chiều rộng sàn công tác cuả giàn giáo và giá đỡ không được nhỏ hơn 1,0m. Sàn phải được lát bàng ván sao cho bằng phẳng , đầu ván phải khít và ghìm chắc vào sàn. Ván sàn phải bảo đảm độ bền , không mục mọt , nứt gẫy. Giữa sàn và công trình phải chừa một khe hở 10cm.

Nếu dùng ván rời để đặt dọc giàn giáo thì phải có chiều dài đủ để khi đặt trực tiếp hai đầu ván lên thanh đà , mỗi đầu phải chừa ra một đoạn ít nhất là 20 cm và được buộc hay đóng đinh chắc chắn vào thanh đà. Phải dùng nẹp giữ cho các ván ghép không bị trượt trong khi làm việc. Sàn công tác phải có lan can bảo vệ cao 1m gồm tay vịn ở trên cùng , ở khoảng giữa có một thanh ngang chống lọt.

  1. Khi giàn giáo cao hơn 6m phải làm ít nhất hai sàn công tác. Sàn phía trên để làm việc , sàn phía dưới để bảo vệ.

Cấm làm việc đồng thời trên hai sàn trong cùng một khoang mà không có biện pháp bảo vệ an toàn (sàn hoặc lưới bảo vệ )

  1. Khi giàn giáo cao trên 12m phải dành hẳn một khoang giàn giáo để làm cầu thang lên xuống. Cầu thang phải có độ dốc không quá 60o và có đặt tay vịn. Nếu giàn giáo không cao quá 12m thì có thể thay cầu thang bằng thang tựa hay thang dây với chất lượng tốt.
  2. Các lối qua lại phía dưới giàn giáo và giá đỡ phải được che chắn bảo vệ phía trên để đề phòng vật liệu, dụng cụ rơi xuống trúng người.
  3. Tải trọng đặt trên giàn giáo và giá đỡ phải phù hợp với thiết kế. Cấm người , vật liệu , thiết bị tập trung vào một chỗ để tránh dẫn tới vượt quá tải trọng cho phép
  4. Tuyệt đối không cho phép các vật nặng đang cẩu chuyển va chạm vào giàn giáo hay giá đỡ hay đặt mạnh lên mặt sàn công tác
  5. Đội trưởng phải kiểm tra giàn giáo , giá đỡ để tin chắc là đủ bền trước khi cho công nhân lên làm việc hàng ngày. Mỗi khi phát hiện thấy hiện tượng hư hỏng cuả giàn giáo , giá đỡ phải tạm ngừng công việc và thực hiện ngay biện pháp sửa chữa thích hợp mới được tiếp tục cho làm việc trở lại
  6. Hết ca làm việc không cho phép lưu lại trên giàn giáo vật liệu , dụng cụ
  7. Tháo dỡ giàn giáo phải làm theo trình tự ngược lại với lắp dựng , phải tháo từng thanh , tháo gọn từng phần và xếp đặt chúng vào chỗ quy định. Nghiêm cấm tháo dỡ giàn giáo bằng cách giật hay xô đổ chúng hoặc dùng dao chặt các nút buộc.
  8. Một số điểm phải chú ý tuân thủ khi giàn giáo làm bằng các vật liệu khác nhau.
  • Tre làm giàn giáo phải là loại tre già , không mục , không bị dập ; chân cột phải chôn sâu 0,5m và lèn chặt , không được dùng đinh để liên kết giàn giáo tre mà phải dùng dây buộc loại tốt.
  • Gỗ làm giàn giáo phải là gỗ tốt (từ nhóm 6 trở lên) không bị mục , mọt. Giàn giáo gỗ chịu tải trọng nặng phải liên kết bằng bulông.
  • Thép ống làm giàn giáo không được cong , bẹp , nứt , lõm , thủng… Chân cột bằng thép phải lồng vào chân đế và kê đệm đúng quy định. Giàn giáo dựng cao đến đâu phải neo giữ chắc vào công trình đến đấy , việc neo giữ phải tuân theo đúng chỉ dẫn cuả thiết kế.
  • Nếu vị trí móc neo trùng với lô tường thì phải làm hệ thống giằng phía trong để neo.
  • Các mối liên kết bằng đai phải chắc chắn và đề phòng các thanh đà trượt trên cột đứng.
  • Dựng – gỡ giàn giáo bằng thép cách đường dây điện không quá 5m phải báo xin cắt điện liên tục cho đến khi hoàn tất công việc mới đóng điện trở lại.
  • Phải có biện pháp bảo đảm an toàn chống sét ngay khi dựng giàn dáo kể từ độ cao 4m trở lên , ngoại trừ trường hợp giàn giáo ở trong phạm vi bảo vệ chống sét đã có sẵn.

Chỉ cho phép sử dụng giàn giáo treo và nôi treo nếu đáp ứng các yêu cầu sau :

  • Dây treo làm bằng thép tròn , dây cáp (đối với giàn giáo treo) cáp mềm (đối với nôi treo) và có kích thước phù hợp với thiết kế.
  • Đặt giàn giáo treo và nôi treo cách phần nhô ra của công trình tối thiểu là 10cm.
  • Công-xon phải cố định chắc vào công trình và không cho chúng tựa lên mái đua hoặc bờ mái.
  • Giàn giáo được neo buộc chắc vào công trình để tránh bị đu đưa trong khi làm việc.
  • Trước khi sử dụng phải thử tải trọng tĩnh đối với dây treo giàn giáo với trị số lớn hơn 25% tải trọng tính toán.

Riêng nôi treo ngoài việc thử tải trọng tĩnh còn phải chịu thử tải trọng động ở trạng thái nâng hạ. Khi thử tải trọng động , tải trọng thử phải lây lớn hơn 10% trị số tính toán.

Tải trọng treo và móc treo phải có trị số lớn hơn hai lần tải trọng tính toán và thời gian treo thử trên dây không nhỏ hơn 15 phút.

Kết quả thử nghiệm phải được xác nhận bằng biên bản nghiệm thu.

  • Nâng hạ nôi treo bằng tời chỉ được tiến hành với bộ phận thắng hãm tự động tốt.
  • Khi ngưng việc phải hạ nôi treo xuống , không được để chúng ở trạng thái treo lơ lửng.
  • Lên xuống giàn giáo treo phải dùng thang dây cố định tốt vào công trình và có độ bền bảo đảm an toàn. Phải thường xuyên tổ chức kiểm tra tình trạng hoàn hảo cuả chúng

Nguồn: Sưu Tầm

dai an toan

Phần lớn số tai nạn chết người xảy ra trong xây dựng là do ngã cao. Khi công việc không thể tiến hành trên giàn giáo hay thang dẫn, hoặc trên xe có sàn công tác lên xuống được thì mặc trang bị an toàn là cách duy nhất để tránh thương vong.
Có rất nhiều kiểu thắt lưng an toàn và quần áo bảo hộ. Nên hỏi nhà sản xuất để biết rỗ tác dụng, cách sử dụng và bảo quản của từng loại. Nên sử dụng cả một bộ trang bị an toàn đầy đủ hơn là chỉ sử dụng một thắt lưng an toàn. Một bộ trang bị an toàn và các dây thắt phải thoả mãn các điều kiện sau:
– Hạn chế khả năng bạn có thể bị rơi từ độ cao trên 2m bằng một thiết bị hãm;
– Đủ chắc để chịu được trọng lượng cơ thể.
–  Được gắn vào một cấu trúc cứng vững qua một điểm neo chắc nằm phía trên vị trí làm việc.
Những điểm cần nhớ
Hãy tạo một thói quen sử dụng trang bị an toàn.
Thảo luận
– Những công việc nào trên công trường của bạn cần đến trang bị an toàn? -Vì sao chúng lại không được sử dụng?

Tác giả: Hien kiem dinh

CB thuy san

Bảo vệ lao động và vệ sinh công nghiệp

Mỗi cơ sở chế biến đều có yêu cầu riêng đảm bảo vệ sinh công nghiệp cho từng sản phẩm cụ thể, ví du Bộ Thuỷ sản (cũ) có tiêu chuẩn ngành [3, 4]. Ở đây chỉ nêu một số yêu cầu chung để tham khảo. a) Không sử dụng thông gió tự nhiên bằng cửa sổ, cửa lớn cho các phòng chế biến đổ hạn chế sự thâm nhập vi khuẩn. Cần trang bị hệ thống điều hoà không khí cho phòng chế biến. b) Cần trang bị màn gió ở cửa ra vào để hạn chế thất thoát lạnh, kết hợp chắn bụi, ruồi, nhặng vào lẫn theo người. c) Công nhân chế biến lạnh phải được trang bị ủng cao su, găng tay cao su, tạp dề bằng vải nhựa để tránh ẩm ướt. Trước khi làm việc phải rửa tay bằng nưóc sát trùng và phải lội qua bể nước sát trùng để đi vào phòng chế biến.

Bảo hộ lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm

Đóng túi hoặc đóng kiện sản phẩm đã qua kết đông cần tiển hành ở nhiệt độ -10°c để tránh tan giá một phẩn. Nếu bị tan giá một phần, sau khi đưa vào bảo quản ở -18°c, vị trí tan giá tái kết đông chậm và kích thước tinh thể đá lớn cơ thể phá vỡ màng tế bào, làm giảm chất lượng sản phẩm. b) Cần giữ nhiệt độ ổn định trong các buồng bảo quản đồng. Nếu nhiệt độ dao động hơn 3°c và ngày dao động quá 3 lần thì có thể xảy ra tình trạng hoá tinh thể đá lớn, làm giảm chất lượng sản phẩm. c) Cần đảm bảo thời gian tan giá sản phẩm đúng quy định. Tạn giá nhanh, sản phẩm sẽ bị chảy mất nước cốt, biến màu sắc… làm giảm chất lượng sản phẩm. d) Cần trang bị đầy đủ ánh sáng tự nhiên hoãc nhân tạo để công nhân làm việc với chất lượng cao, đặc biệt ở các khâu lựa chọn, phân loại… tránh làm giảm chất lượng chung.

Sử dụng phòng đệm trong các kho lạnh

Cần bố trí phòng đệm có nhiệt độ trung gian, tránh gây sốc, tác động không tốt đến sức khỏe công nhân làm việc trong các kho lạnh. Ví dụ nhiệt độ kho lạnh —25°Cj ngoài tròi +30°Cf cần bố trí một phòng đệm (hoặc hành lang) nhiệt độ 10 -r 18°c. Trước khi vào kho lạnh, người công nhân cần dừng lại ở phòng đệm một lát cho quen dần trước khi vào kho lạnh để tránh cảm lạnh đột ngột, Khi từ trong kho lạnh ra ngoài cũng vậy, cần phải dừng lại ở phòng đệm một lát trước khi đi ra ngoài.

Bảo hộ lao động công nhân ở kho lạnh

Nữ công nhân đang có thai và đang có con nhỏ dưới 1 tuổi, không được làm việc trong kho lạnh (nhiệt độ thấp hem 20°C) và kho lạnh đông (nhiệt độ thấp hơn -18°C). b) Công nhân làm việc ờ kho lạnh nhất thiết phải mặc áo ấm. Những người làm việt suốt ca trong kho lạnh phải mặc quần áo khòng thấm khí (vải tráng nhựa). c) Công nhân làm việc ở kho lạnh có nhiệt độ âm và lạnh đông nên cứ sau 1 giờ làm việc lại được nghỉ 10 phút ở phòng có nhiét độ bình thường. Cấm làm việc 2 giờ liên tục rổi mới nghỉ. d)  Công nhân làm việc có tiếp xúc vói sản phẩm lạnh đône phải mang găng tay ấm. Cấm tiếp xúc với sản phẩm bằng tay trần. e) Tuyệt dối không được ăn các sản phẩm còn đang là trạng thái lạnh đông (rau, quả, bánh, hải sản…), tránh buốt răng và viêm họng. f) Cần phải có biện pháp tránh người bị nhốt trong kho lạnh.

Nguồn: Sưu Tầm

logo-uchat

Thông tư này quy định chi tiết Điều 65, Điều 66 Luật bảo vệ môi trường năm 2014; Điểm e Khoản 1 và Điểm e Khoản 2 Điều 7, Điểm c Khoản 1 Điều 11, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 29, Khoản 1 Điều 34 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế; các quy định về bảo vệ môi trường đối với khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao quy định tại Điểm a và Điểm c Khoản 1 Điều 43 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu .

Xem chi tiết tại đây

logo-uchat

Trong những năm gần đây, composite được sử dụng chế tạo các bộ phận trên máy bay như kết cấu khung xương, thân máy bay, cánh, bộ phận dẫn hướng… Theo thống kê của hãng máy bay Boeing, chiếc Boeing Dreamliner 787 sử dụng đến 50% composite trên toàn bộ trọng lượng

1. Trong một số lĩnh vực của đời sống

– Giao thông vận tải: Thay thế các loại sắt, gỗ, ván… như: càng, thùng trần của các loại xe ôtô, một số chi tiết của xe môtô.

– Hàng hải: Làm ghe, thuyền, thùng, tàu…

– Quốc phòng: Những phương tiện chiến đấu: tàu, cano, máy bay, phi thuyền… Thiết bị: Dụng cụ, phương tiện phục vụ cho việc sản xuất nghiên cứu trong quân đội như: bồn chứa nước hoặc hóa chất, khay trồng rau, bia tập bắn….

– Công nghiệp hóa chất: Bồn chứa dung dịch acid (thay gelcoat bằng epoxy hoặc nhựa vinyleste); Bồn chứa dung dịch kiềm ( thay gelcoat bằng epoxy)

– Dân dụng: Sản phẩm trong sơn mài: bình, tô, chén, đũa…
– Sản phẩm trang trí nội thất: khung hình, phù điêu, nẹp hình, vách ngăn…
– Bàn ghế, tủ giả đá, khay, thùng, bồn.

[IMG]
Hình 1: Ứng dụng vật liệu composite trong các công nghiệp ôtô

[IMG]

Hình 2: Một số ứng dụng của vật liệu composite trong lĩnh vực thể thao.

[IMG]

Hình 3: Ứng dụng vật liệu composite trong công nghiệp tàu thủy
2. Trong ngành hàng không vũ trụ

Trong những năm gần đây, composite được sử dụng chế tạo các bộ phận trên máy bay như kết cấu khung xương, thân máy bay, cánh, bộ phận dẫn hướng… Theo thống kê của hãng máy bay Boeing, chiếc Boeing Dreamliner 787 sử dụng đến 50% composite trên toàn bộ trọng lượng (Hình 4). Một trong những lý do quan trọng nhất của việc ứng dụng rộng rãi loại vật liệu này trong ngành Hàng không là độ bền và độ cứng tương đối trên trọng lượng riêng của composite lớn. Điều này làm giảm trọng lượng của máy bay, tiết kiệm nhiên liệu, giảm ô nhiễm môi trường và tăng hiệu quả kinh tế. Composite còn được sử dụng để chế tạo các chi tiết hình dáng phức tạp, góp phần làm giảm số lượng chi tiết trên máy bay, đồng thời giảm thời gian và chi phí lắp đặt sản phẩm. Vật liệu composite cốt sợi thủy tinh có tính trong suốt đối với sóng rada, đặc tính này rất quan trọng trong các ứng dụng quân sự. Nó còn được sử dụng nhiều trong công nghệ vũ trụ.

[IMG]
Hình 4: Tỉ trọng các loại vật liệu trên máy bay B787
(Nguồn: Sưu Tầm)